Pin và những bí ẩn về eneloop

3/06/2016 / Trong danh mục Hướng dẫn cơ bản
Ene that

Bước chân vào con đường ảnh ọt, sớm muộn sẽ tới ngày ta muốn có đèn flash và đương nhiên kèm theo là những bộ pin mạnh mẽ. Với vô số thương hiệu pin từ lớn tới nhỏ và đủ loại ổ sạc, không những các newbie mà ngay cả các cao thủ cũng có khi bối rối khi lựa chọn. Bài viết này tổng hợp nhiều thông nguồn thông tin, hy vọng sẽ giúp các bác gỡ rối khi chọn mua pin.

Bài viết chú trọng vào chuẩn pin AA. Tuy nhiên nội dung có thể áp dụng cho các chuẩn pin khác.

Chú thích: do các thuật ngữ khi dịch sang tiếng Việt rất dài dòng nên em sẽ sử dụng tiếng Anh:

(1) Discharge: sự tiêu tốn điện năng của pin, ví dụ khi đang cấp điện cho thiết bị.
(2) Self Discharge: sự tự tiêu tốn điện năng của pin khi không sử dụng.
(3) Low Self Discharge (LSD): tốc độ tự mất điện chậm hay mức độ tự mất điện thấp.
(4) Discharge Rate: Tốc độ cấp điện cho thiết bị.
(5) Memory Effect: nếu sạc pin khi nó chưa hoàn toàn hết điện, lặp lại nhiều lần, dẫn đến pin sẽ không thể discharge 100% khi cần tiết.
(6) Re-Brand: Cùng một sản phẩm nhưng được đóng gói và bán dưới một thương hiệu khác.
(7) De-Rate: Cùng một sản phẩm nhưng sau khi Re-Brand sẽ mang đặc tính kỹ thuật thấp hơn hàng chính hãng (Brand Name)

1. Phân loại:

1.1 Pin dùng một lần, Alkaline: 1.5 volt

Đây là loại pin phổ biến nhất thế giới và đó cũng chính là một trong hai ưu điểm lớn của loại pin này. Ta có thể tìm mua được pin Alkaline ở bất cứ hang cùng ngõ hẽm, từ thành thị tới nông thôn ở bất cứ quốc gia nào.

Ưu điểm thứ hai: pin Alkaline gần như không bị mất điện nếu được lưu trữ trong điều kiện thoáng mát. Điều này có nghĩa là, bất kể ngày đêm, mưa gió lụt bão, ta vẫn có thể lấy bộ pin alkaline cất trong tủ từ vài năm trước ra dùng và nó vẫn mạnh mẽ y như mới mua ngày hôm qua.

Tuy nhiên, loại pin này có nhiều nhược điểm như: chỉ dùng một lần, khi pin hết năng lượng ta phải bỏ đi. Điều này đồng nghĩa với ô nhiễm môi trường, hao tốn tài nguyên vì phải liên tục sản xuất pin mới và đáng kể nhứt là chi phí sử dụng cao do phải thay pin mới thường xuyên.

Nhược điểm lớn khác rất khó chấp nhận đối với dân nhiếp ảnh đó là, pin Alkaline tụt điện thế rất nhanh ngay khi bắt đầu sử dụng. Việc này làm giảm tốc độ “lên đèn”, low discharge rate, dẫn tới bất tiện khi cần đánh flash nhanh và liên tục.

1.2 Pin sạc

1.2.1 Pin Nikel Cadium (Ni-Cd hay Ni-Cad) 1.2 volt

Được phát minh năm 1898, lần đầu tiên pin có thể sạc và dùng lại. Giảm ô nhiễm môi trường và tiêu tốn tài nguyên. Tuy giá thành cao nhưng vì có thể dùng lại nhiều lần nên chi phí sử dụng thấp hơn pin Alkaline.

Ưu điểm đáng kể nhứt là pin ít bị tụt điện thế trong suốt quá trình sử dụng. Tức là discharge rate cao và ổn định cho đến khi pin hết điện. Đối với dân nhiếp ảnh thì đây là đặc điểm rất quan trọng. Tốc độ hồi đèn nhanh và ổn định cho đến khi pin hết điện.

Nhược điểm lớn nhất của pin Ni-Cd là Memory Effect.
Nhược điểm thứ hai là mức độ self discharge cao. Sau khi sạc đầy, pin sẽ mất hết điện sau vài tuần dù không dùng đến.

Do đặc tính cấu tạo của pin NiCd, nếu sạc quá nhanh hoặc tiếp tục sạc khi pin đã đầy sẽ làm giảm tuổi thọ của pin.

1.2.2 Pin Nikel Metal Hybride (Ni-MH) 1.25v

Đây là loại pin mới hơn và tốt hơn pin Ni-Cd. Pin Ni-MH có dung lượng cao hơn và điện thế cao hơn (1.25-1.4v). Pin Ni-MH cũng bị memory effect nhưng có thể phục hồi bằng cách sạc-xả 2,3 lần.

Ngoài những ưu điểm giống như pin Ni-Cd, loại pin này có tốc độ self discharge thấp hơn. Pin Ni-MH gần như thay thế hoàn toàn pin Ni-Cd từ năm 1990.

1.2.3 Pin Lithium ion (Li-Ion) 1.2v

Pin Li-Ion xuất hiện vào năm 1991, nó nhanh chóng được ưa chuộng vì có dung lương cao, mang tất cả các ưu điểm của pin sạc thế hệ trước và gần như không bị memory effect. Nó được coi như là loại pin hàng đầu. Đến nay pin Li-Ion là loại pin đang được sử dụng rộng rãi nhất.

1.2.4 Pin Lithium Ion Polymer (Li-Ion Polymer) 3.6v

Tuy tên tuổi có phần giống với Pin Li-Ion nhưng nó mang một công nghệ khác hẳn. Pin Polymer không bị giới hạn bởi cấu trúc hình trụ như các loại pin khác. Pin Polymer được chứa trong túi mềm và có thể định hình theo bất cứ cấu trúc hoặc không gian nào. Đặc tính này tối ưu hoá dung lượng pin khi tích hợp vào các thiết bị cầm tay như laptop siêu mỏng, ĐTDĐ…

Pin Poly-Li-Ion là loại pin cực kỳ tốt với những ưu điểm vượt trội so với các thế hệ pin trước. Tuy nhiên, vì mỗi cell của pin Poly-Li-Ion là 3.6v, nó chưa được sử dụng rộng rãi như pin 1.2v-1.5v.

Tất cả những loại pin sạc kể trên, thế hệ sau tốt hơn thế hệ trước và ngày nay đang được sử dụng rất rộng rãi. Tuy nhiên, chúng đều có chung một nhược điểm: mức độ tự mất điện cao – High Self-Discharge. Chỉ sau vài tuần không sử dụng, pin sẽ mất hết điện.

* Giả sử ta có một chiếc khoan điện, có khi vài tháng mới dùng đến một lần, nhưng khi đó pin đã bị mất hết điện, muốn dùng ta phải sạc lại pin, có khi mất vài giờ mới xong.

* Dân nhiếp ảnh loại vui chơi như tuị mình, có khi vài tuần mới dùng đến đèn flash, lúc đó lại phải chờ sạc pin. Hoặc cứ vài tuần mình phải sạc lại pin dù không dùng đến, như vậy vừa bất tiện vừa làm giảm tuổi thọ của pin.

Dù công nghệ sản xuất pin sạc đã lột xác biết bao lần, dù người dùng trông đợi mõi mòn, Low Self Discharge vẫn là đặc tính luôn được nắm giữ bởi pin Alkaline trong suốt gần trăm năm. Tuy nhiên, điều này đã hoàn toàn thay đổi…

2. Sanyo Eneloop: Vua Pin

Sanyo là một công ty ủng hộ tư tưởng Think GAIA. Năm 2005, ông Taishi Maeda, chế tạo thành công pin Eneloop. Nó là sản phẩm đầu tiên thể hiện tinh thần “think GAIA” của Sanyo và trở thành loại pin thành công nhứt cho đến ngày nay.

Eneloop – loại pin sạc đầu tiên mang đặc tính Low Self Discharge.

Tại sao LSD lại quan trọng như vậy?

LSD không những là tính chất rất hữu dụng được người dùng mong đợi mà nó chính là vũ khí tối thượng để hạ bệ pin Alkaline, kẻ đại tội đối với môi trường.

Đặc điểm nhận diện pin LSD bao gồm Eneloop và non-Eneloop: trên bao bì sẽ ghi một trong các nội dung sau:

*Low Self Discharge
*PreCharged
*Ready to Use

Eneloop là gì? Không ai biết. Em tạm phân tích như sau:

* Ene là viết tắt của từ energy, tức là năng lượng.
* Loop, có nghĩa là vòng tròn, là đi một vòng rồi quay về, sự việc diễn đi diễn lại có tính tuần hoàn.

Kết hợp lại thành Eneloop, có nghĩa là năng lượng tái sinh.

Pin Eneloop là phiên bản đặc biệt của pin Ni-MH, nó bao gồm tất cả các ưu điểm của pin sạc và pin Akaline cộng lại: Low Self Discharge, dung lượng cao, rất ít bị memory effect và có số lần sạc lại rất cao, tức là tuổi thọ cao.

Sanyo phát minh ra Eneloop đồng thời đã khai sinh ra một dòng pin mới gọi chung là pin Low Self Discharge hay LSD. Công ty thứ hai bước vào cuộc đua này là Rayovac xuất thân Tàu cộng. Rayovac gọi nó là pin Alkaline Hybrid.

*Eneloop thế hệ 1: từ năm 2005, Ký hiệu HR-3UTG (AA) và HR-4UTG (AAA) có dung lượng 2000mah, và có thể sạc 1000 lần. Nếu không sử dụng, sau 1 năm dung lượng còn lại 75%. “Lỗ thông hơi” ở cực + có hình tam giác.

*Eneloop thế hệ 2: từ năm 2010, có thể sạc 1500 lần, dung lượng còn lại 85% sau 1 năm và 75% sau 3 năm. Cỡ pin C và D cũng được giới thiệu từ đây. “Lỗ thông hơi” ở cực + có hình bán khuyên.

*Eneloop thế hệ 3: từ năm 2011, ký hiệu HR-3UTGB (AA) và HR-4UTGB (AAA)có thể sạc 1800 lần. Dung lượng còn lại 90% sau 1 năm, 80% sau 3 năm và 70% sau 5 năm. Không còn nhìn thấy “lỗ thông hơi” ở cực +.

*Eneloop thế hệ 4: từ năm 2013, ký hiệu BK-3MMC (AA) và BK-4MMC (AAA), nâng số lần sạc lên 2100. Không còn nhìn thấy “lỗ thông hơi” ở cực +.

Ngoài ra còn có Eneloop Pro thế hệ 1 ra đời năm 2011 với dung lượng 2500mah, sạc được 500 lần, dung lượng sau 1 năm là 70%. Năm 2013 Eneloop Pro thế hệ 2 ra đời gọi là Eneloop XX, dung lượng 2550mah, sạc 500 lần và dung lượng sau 1 năm là 85%.

Tất cả pin Eneloop sau khi sản xuất đều được sạc bằng nguồn năng lượng mặt trời trước khi xuất xưởng.

Rayovac là một công ty Tàu cũng bước chân vào thị trường pin LSD, họ gọi là pin Alkaline Hybrid. Đây cũng là một loại pin rất tốt, tuy nhiên tính phổ biến không cao như pin Eneloop.

Chỉ sau một thời gian ngắn bước vào thị trường pin Eneloop trở thành Tiêu Chuẩn của pin sạc và là loại pin thành công nhứt từ xưa đến nay. Mỗi khi có một loại pin LSD mới nào xuất hiện trên thị trường thì câu hỏi đầu tiên luôn là: “Có tốt như Enellop không?”

Việc này đồng thời cũng dẫn đến một tệ hệ quả khó tránh: pin Eneloop giả.

Sanyo đã liên tục thay đổi bao bì cho mỗi thế hệ pin mới nhưng việc phân biệt pin Thật-Giả không phải lúc nào cũng dễ. Dưới đây là một vài đặc điểm nhận diện:

Hiện nay chưa nghe nói đến pin Eneloop Pro giả cho nên phần tiếp theo bên dưới sẽ chỉ nói đến pin Eneloop loại 2000mah.

Đây là bộ pin Eneloop Glitter, Limited Edition. Phiên bản này không có pin giả cho nên nó là pin thật 100%

Đặc điểm quan trọng nhứt của pin Eneloop thật là trên thân pin có in chìm mã ngày sản xuất của pin. Phải nhìn thật kỹ dưới ành sáng chếch mới thấy được.

Em chưa nghe nói đến pin Eneloop giả có mã in chìm này. Tuy nhiên nếu các bác vẫn còn nghi hoặc thì xin xem tiếp.

Pin Eneloop thật, đầu cực + có màu trắng (White top), ngoại trừ Eneloop Pro cực + màu đen. Tuy nhiên, Eneloop giả cũng có thể white top.
Pin thật đỉnh cưc + tròn, pin giả dỉnh cực + vuông

Pin thật, white top bao quanh cực + chặc chẽ, pin giả white top không bao sát cực +. Ngoài ra phần kim loại ở cực + và – của pin thật “nổi hạt” chứ không trơn láng.

Cực âm cũng khác nhau giữa pin thật và giả. Các bác nhìn kỹ phần nhô cao nhé. Loại pin giả này cũng có cực âm “nổi hạt” nhé các bác.

Pin giả có vỏ bọc không phủ tới đít pin tức cực âm.

Thân pin cũng khác nhau như sau

Các bác lưu ý các điểm đánh dấu đỏ trong nội dung in trên thân pin

Ngoài ra, pin giả có các vết mực in lem màu xanh dương như hình trên.

Có rất nhiều loại pin giả, có loại mang một vài đặc điểm giống pin thật nhưng không có loại pin giả nào giống y sì pin thật. Cho nên, các bác cần biết rõ tất cả các đặc điểm của pin thật để nhận diện pin thật hay giả. Nếu bác nào còn phân vân không biết pin của mình thật hay giả thì post hình lên để mọi người giúp xác định nhé.

Gửi phản hồi

ĐẦU TRANG
logo